Hoạt động chuyên đề

Hoàn thành phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc – sự kiện có ý nghĩa lịch sử trọng đại
Ngày đăng 22/03/2018 | 04:19  | View count: 3725

Ngày 31 tháng 12 năm 2008 tại Hà Nội, hai Trưởng Đoàn đàm phán cấp chính phủ về biên giới lãnh thổ Việt Nam và Trung Quốc đã long trọng ra Tuyên bố chung về việc hoàn thành công tác phân giới cắm mốc biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc theo đúng thoả thuận giữa lãnh đạo cấp cao hai nước

Đây là một sự kiện có ý nghĩa lịch sử trọng đại trong quan hệ Việt - Trung, chứng tỏ dưới sự lãnh đạo của hai Đảng Cộng sản, hai Nhà nước xã hội chủ nghĩa, các vấn đề do lịch sử để lại sẽ được giải quyết hòa bình, công bằng, có tính đến lợi ích của nhau, phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế, và đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân hai nước. Lần đầu tiên trong lịch sử, Việt Nam và Trung Quốc có một đường biên giới trên đất liền hoàn chỉnh được thể hiện rõ ràng trong Hiệp ước biên giới đất liền, bản đồ, các văn bản kèm theo và được đánh dấu bằng một hệ thống mốc quốc giới chính quy, hiện đại, bền vững trên thực địa, có giá trị trường tồn cho hai quốc gia, dân tộc, tạo điều kiện phát triển, giao lưu kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật giữa hai nước.

Ngược dòng thời gian hơn một trăm năm trước đây trong lịch sử của dân tộc ta, khi đất nước ta đang ở trong chế độ thuộc địa do thực dân Pháp cai trị. Thực dân Pháp và triều đình Mãn Thanh - Trung Quốc đã ký các Công ước hoạch định biên giới giữa Bắc Kỳ với Trung Quốc năm 1887 và Công ước bổ sung Công ước hoạch định biên giới năm 1895.

Trải qua hơn một trăm năm tồn tại, với những thay đổi của lịch sử và tác động của thiên nhiên, con người và của chiến tranh, đường biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc đã có nhiều biến động phức tạp. Trên thực địa, một số mốc giới của đường biên giới pháp lý thời kỳ đó đã bị mất, bị hủy hoại, bị dịch chuyển... gây ra nhận thức khác nhau về đường biên giới ở một số khu vực, dẫn đến tranh chấp. Tình hình đó đặt ra yêu cầu hai nước Việt Nam – Trung Quốc phải hợp tác để xác định lại một cách rõ ràng, cụ thể đường biên giới pháp lý này bằng các phương pháp kỹ thuật mới, với một hệ thống mốc giới hiện đại, bền vững hơn.

Sau khi Việt Nam và Trung Quốc bình thường hoá quan hệ, Chính phủ hai nước đã thống nhất đàm phán giải quyết vấn đề tồn tại về biên giới trên đất liền theo nguyên tắc tôn trọng nguyên trạng đường biên giới do lịch sử để lại, đã được hoạch định bởi các Công ước 1887 và 1895 do Chính phủ Pháp và triều đình Mãn Thanh ký, và đã được phía Việt Nam và Trung Quốc đồng ý chấp nhận.

Trải qua gần tám năm đàm phán và triển khai công tác phân giới cắm mốc trên thực địa, Việt Nam và Trung Quốc đã kết thúc công tác phân giới cắm mốc trên toàn tuyến biên giới dài khoảng 1.400 km từ Tây sang Đông nối tiếp với đường phân định Vịnh Bắc Bộ (trong đó có 344 km đường biên giới đi theo 21 sông, suối chính); cắm được gần 2.000 cột mốc trong đó có hơn 1.500 cột mốc chính và hơn 400 cột mốc phụ. Hệ thống mốc giới này được đánh dấu, ghi nhận và mô tả phù hợp với địa hình thực tế một cách khách quan, khoa học, chi tiết, được xác định theo phương pháp hiện đại, bảo đảm tính trung thực và bền vững lâu dài. Các chốt quân sự trên đường biên giới đều đã được dỡ bỏ.

Kết quả mà hai bê đạt được trong quá trình phân giới cắm mốc là công bằng, hợp lý, phù hợp với Hiệp ước biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc năm 1999, luật pháp và thực tiễn quốc tế, đáp ứng được các quan tâm của hai bên và cả hai bên chấp nhận được; đáp ứng nguyện vọng thiết tha và lợi ích cơ bản của nhân dân hai nước và quan hệ truyền thống hữu nghị Việt – Trung, phù hợp với xu thế hòa bình, ổn định, hợp tác và cùng phát triển ở khu vực Đông Nam Á và trên thế giới.

Việc hoàn thành công tác phân giới cắm mốc trên biên giới đất liền Việt Nam – Trung Quốc trong năm 2008 có ý nghĩa to lớn:

Thứ nhất, việc hoàn thành phân giới cắm mốc góp phần xây dựng một đường biên giới hoàn chỉnh, chính quy, hiện đại và bền vững, tạo tiền đề vững chắc để xây dựng biên giới Việt - Trung hoà bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác, tạo thuận lợi cho công tác quản lý biên giới sau này. Một đường biên giới ổn định lâu dài có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; đồng thời góp phần củng cố môi trường hòa bình, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.

Thứ hai, với kết quả này chúng ta đã giải quyết được hai vấn đề lớn về biên giới lãnh thổ trong quan hệ hai nước Việt Nam – Trung Quốc (xác định biên giới trên đất liền và phân định Vịnh Bắc Bộ từ các Hiệp ước, Hiện định phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ năm 2000), tạo điều kiện tập trung giải quyết các vấn đề trên Biển Đông, tăng cường sự tin cậy giữa hai bên.

Thứ ba, tiếp theo việc ký kết Hiệp ước biên giới trên đất liền năm 1999, Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ năm 2000, việc hoàn thành phân giới cắm mốc là biểu hiện sinh động của mối quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc theo phương châm 16 chữ thúc đẩy quan hệ giữa hai nước trong thế kỷ XXI là “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần bốn tốt là “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”, để nâng lên tầm cao hơn, lành mạnh và bền vững hơn, tạo cơ sở cho quan hệ hai nước phát triển ổn định, lâu dài.

Thứ tư, sự kiện này mở ra những cơ hội mới cho công cuộc phát triển của mỗi nước, đặc biệt là tạo điều kiện cho các địa phương có chung biên giới mở rộng giao lưu hợp tác, tăng cường quan hệ kinh tế, thương mại. Trong những năm qua, Trung Quốc đã vươn lên trở thành một trong những nhà đầu tư lớn tại Việt Nam, đồng thời trở thành đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam với kim ngạch mậu dịch song phương đạt khoảng 21 tỷ USD. Trong thời gian tới, mậu dịch biên giới giữa hai nước chắc chắn sẽ tăng lên nhanh chóng và sẽ góp phần tích cực thực hiện mục tiêu mới, nâng kim ngạch song phương lên 25 tỷ USD vào năm 2010. Ngay sau khi phân giới cắm mốc hoàn thành, ngày 2 tháng 1 năm 2009 tuyến đường sắt Hà Nội - Nam Ninh đã được đưa vào hoạt động.

Thành quả trên có được trước hết là nhờ có sự quan tâm sát sao của các đồng chí lãnh đạo cấp cao của hai Đảng và hai Nhà nước, quyết tâm hoàn thành phân giới cắm mốc trong năm 2008; những nỗ lực không mệt mỏi của hai Đoàn đàm phán chính phủ, của các lực lượng phân giới cắm mốc thuộc các Bộ, ngành: Ngoại giao, Quốc phòng, Công an, Tài nguyên và Môi trường, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Xây dựng, Tài chính… và các địa phương có chung đường biên giới, cũng như của đông đảo đồng bào dân tộc các tỉnh biên giới đã vượt qua muôn vàn khó khăn gian khổ để bảo đảm tiến độ phân giới cắm mốc. Có được thành quả trên cũng là nhờ sự kế thừa công lao của nhiều thế hệ lãnh đạo, nhân dân hai nước; sự đồng tình và ủng hộ của các tầng lớp nhân dân trong nước và kiều bào ta ở nước ngoài đã thường xuyên quan tâm, động viên, khích lệ cho công tác này trong suốt quá trình phân giới cắm mốc. Đây cũng là thành quả của tinh thần độc lập tự chủ, nắm vững và vận dụng linh hoạt luật pháp quốc tế, tiếp thu kinh nghiệm giải quyết hoà bình các tranh chấp về biên giới lãnh thổ của các nước khác.

Trong thời gian tới, hai Bên cần sớm hoàn chỉnh nội dung để ký trong năm 2009 Nghị định thư về phân giới cắm mốc và các phụ lục kèm theo, bao gồm bản đồ, hồ sơ ghi nhận những kết quả phân giới cắm mốc; Hiệp định về Quy chế quản lý biên giới mới, Hiệp định quản lý các cửa khẩu quốc tế và các văn kiện liên quan khác nhằm đưa Hiệp ước Biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc đi vào cuộc sống. Hai Bên cũng sẽ xem xét hợp tác khai thác tiềm năng du lịch Thác Bản Giốc và ký Thoả thuận cấp Chính phủ về vấn đề này; thảo luận và ký một thoả thuận cấp Chính phủ về việc thiết lập khu vực tự do đi lại cho tàu thuyền của cư dân biên giới tại khu vực cửa sông Bắc Luân.

Công tác biên giới, lãnh thổ rất vất vả và gian khổ, có khi phải đổ máu hy sinh. Thay mặt Ban Chỉ đạo Nhà nước về phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền, tôi đánh giá cao và nhiệt liệt biểu dương những cố gắng to lớn của các lực lượng phân giới cắm mốc của tất cả cán bộ, chiến sĩ và nhân dân các tỉnh biên giới đã tích cực tham gia công tác phân giới cắm mốc trong những năm qua và đã làm nên một sự kiện có ý nghĩa lịch sử trọng đại. Nhân dịp này, tôi xin chân thành cám ơn sự quan tâm, ủng hộ và động viên của nhân dân trong nước và kiều bào ta ở nước ngoài đối với công tác biên giới lãnh thổ của Tổ quốc nói chung và phân giới cắm mốc nói riêng.

____________

* Bài đăng trên báo Nhân dân, ngày 15 tháng 1 năm 2009

Biển, đảo Việt Nam: Tiềm năng và lợi thế
Ngày đăng 22/03/2018 | 04:01  | View count: 2690

Nhờ khai thác những lợi thế về đường bờ biển dài trên 3.260km, kinh tế biển và vùng ven biển Việt Nam hiện đang đóng góp khoảng 50% GDP cả nước.

Với trên 3.260 km đường bờ biển và trên 3.000 hòn đảo lớn nhỏ, bao gồm 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có tiềm năng và lợi thế lớn về tài nguyên biển và hải đảo. 

Vai trò đặc biệt quan trọng

Biển và hải đảo có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng về kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng và an ninh của hầu hết các quốc gia trên thế giới, nhất là những quốc gia có biển. 
 
Phong cảnh Vịnh Vĩnh Hy, Ninh Thuận. Ảnh: Trọng Đạt/TTXVN
Chiếm tới 71% diện tích hành tinh với độ sâu trung bình 3.710m và tổng khối nước 1,37 tỷ km3, biển và đại dương có khả năng cung cấp một nguồn tài nguyên vô cùng lớn cho loài người. 

Trong đó, sinh vật biển là nguồn lợi quan trọng nhất, bao gồm hàng trăm nghìn loài động vật, thực vật và vi sinh vật như: cá, tôm, cua, mực... làm thực phẩm; cá mập, báo biển, gấu biển... cung cấp thịt, mỡ, da và lông quý cho công nghiệp; rong và tảo đủ màu sắc, là nguyên liệu cho ngành công nghiệp thực phẩm và công nghiệp hoá chất… Các số liệu thống kê cho thấy, sản lượng khai thác thủy sản từ biển và đại dương toàn thế giới liên tục gia tăng, cụ thể: năm 1960: 22 triệu tấn, 1970: 40 triệu tấn, 1980: 65 triệu tấn, 1990: 80 triệu tấn, năm 2000: 94 triệu tấn, con số này duy trì ở mức trên dưới 80 triệu tấn trong những năm gần đây. Theo đánh giá của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO), lượng thủy sản đánh bắt tối đa từ biển là 100 triệu tấn.

Bên cạnh sinh vật biển, biển và đại dương cũng là nguồn cung cấp hóa chất và khoáng sản với trữ lượng lớn. Tổng lượng muối tan chứa trong nước biển là 48 triệu km3, trong đó có muối ăn, iốt và 60 nguyên tố hoá học khác. Các loại khoáng sản khai thác chủ yếu từ biển như dầu khí, quặng Fe, Mn, quặng sa khoáng và các loại muối. Năng lượng sạch từ biển và đại dương như năng lượng thuỷ triều (than xanh), năng lượng sóng... hiện đang được khai thác phục vụ vận tải biển, chạy máy phát điện và nhiều lợi ích khác của con người.

Biển và hải đảo cũng là nơi chứa đựng tiềm năng lớn để phát triển du lịch, tham quan, nghỉ ngơi, giải trí... Các bãi cát rộng, dài; các phong cảnh đẹp tạo thuận lợi cho việc xây dựng các khu du lịch và nghỉ dưỡng.

Ngoài ra, biển và đại dương còn có một vai trò hết sức quan trọng giúp rút ngắn khoảng cách và thời gian đi lại cho các vùng miền, các quốc gia trên thế giới, thông qua phát triển các tuyến giao thông đường thủy. Hiện nay, vận tải biển đã trở thành ngành vận tải hiện đại trong hệ thống vận tải quốc tế. 
 
Cầu tàu tại vịnh, nơi đây là điểm xuất phát của những chuyến tàu đưa du khách khám phá vẻ đẹp của vịnh biển đẹp nhất miền Trung. Ảnh: Trọng Đạt/TTXVN

Biển đảo Việt Nam: tiềm năng và lợi thế 

Việt Nam là một quốc gia nằm ven Biển Đông với chỉ số biển cao gấp 6 lần chỉ số biển trung bình toàn cầu. Cụ thể, Việt Nam có bờ biển dài 3.260 km từ Bắc xuống Nam, chiếm tỷ lệ khoảng 100km2 đất liền/1 km bờ biển (mức trung bình trên thế giới 600 km2 đất liền/1 km bờ biển); hơn 3.000 hòn đảo, trong đó có quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa; các vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia rộng hơn 1 triệu km2 (gấp 3 lần diện tích đất liền). 

Hiện cả nước có đến 28 tỉnh, thành phố ven biển, chiếm 42% diện tích đất liền và 45% dân số toàn quốc. Với những đặc điểm trên, Việt Nam được đánh giá là quốc gia có lợi thế và tiềm năng to lớn về tài nguyên biển.

Về nguồn lợi hải sản và tính đa dạng sinh học: trên vùng biển Việt Nam đã phát hiện được khoảng 11.000 loài sinh vật cư trú trong hơn 20 kiểu hệ sinh thái điển hình, thuộc 6 vùng đa dạng sinh học biển khác nhau. Ngoài ra, còn phát hiện khoảng 1.300 loài trên các hải đảo. Đa dạng sinh học biển và các hệ sinh thái đã cung cấp nguồn lợi hải sản to lớn cho nền kinh tế. Năm 2015, sản lượng thủy sản khai thác của cả nước đạt trên 3 triệu tấn; trong 7 tháng đầu năm 2016, con số này đã đạt trên 1,8 triệu tấn.
 
Ngư dân vận chuyển cá ngừ đại dương từ tàu cá lên bờ. Ảnh: Nguyên Lý/TTXVN

Về khoáng sản, biển Việt Nam có khoảng 35 loại hình khoáng sản có quy mô trữ lượng khai thác khác nhau. Trong đó, dầu khí là tài nguyên lớn nhất ở thềm lục địa nước ta có tầm chiến lược quan trọng. Ngành dầu khí Việt Nam đã đạt mốc khai thác 100 triệu tấn dầu thô năm 2011; mốc 200 triệu tấn dầu thô năm 2012. Năm 2013, xuất khẩu dầu thô đạt mốc 300 triệu tấn. Ngoài ra, biển Việt Nam còn có tiềm năng băng cháy-loại hình tài nguyên mới của thế giới; vùng ven biển còn chứa đựng tiềm năng to lớn về quặng sa khoáng như titan, zircon, thiếc, vàng, sắt, mangan, thạch cao, đất hiếm…

Về tiềm năng phát triển du lịch biển, với 125 bãi biển lớn nhỏ, nắng ấm quanh năm, không khí trong lành với nhiều cảnh quan đẹp... là điều kiện lý tưởng để xây dựng các khu nghỉ mát, nghỉ dưỡng, du lịch cao cấp. Trong đó bãi biển Đà Nẵng đã được tạp chí Forbes bầu chọn là 1 trong 6 bãi tắm quyến rũ nhất hành tinh. Việt Nam cũng là 1 trong 12 quốc gia có các vịnh đẹp nhất thế giới là Vịnh Hạ Long, Vịnh Nha Trang. Bên cạnh đó, đảo và vùng ven biển tập trung nhiều di sản thế giới, khu dự trữ sinh quyển, vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên; nhiều di tích văn hóa-lịch sử; các lễ hội dân gian của cư dân miền biển; tín ngưỡng, phong tục tập quán liên quan đến biển… Với lợi thế này, ngành du lịch biển Việt Nam hàng năm thu hút khoảng 15 triệu lượt khách, trong đó có 3 triệu khách quốc tế, đạt tốc độ tăng bình quân 13%/năm. 

Một lợi thế quan trọng khác là vùng biển Việt Nam thuộc Biển Đông - một trong những con đường giao thương hàng hải quốc tế nhộn nhịp nhất trên thế giới, nối liền Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Bờ biển mở ra cả 3 hướng Đông, Nam và Tây Nam nên rất thuận lợi cho việc giao lưu thương mại quốc tế và hội nhập kinh tế biển. Theo báo cáo của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, bờ biển nước ta có 10 điểm có thể xây dựng cảng biển nước sâu và nhiều điểm cảng trung bình với tổng sản lượng hàng hóa vận chuyển đạt 50 triệu tấn/năm. Đến nay, Việt Nam đã ký hiệp định hàng hải thương mại với 26 quốc gia. Việt Nam đã phát triển được 30 cảng biển với 166 bến cảng, 350 cầu cảng với tổng chiều dài khoảng 45.000m; xây dựng 18 khu kinh tế ven biển… Mặt khác, vùng biển rộng lớn với nhiều đảo cũng là không gian trọng yếu để bảo đảm an ninh-quốc phòng.

Có thể thấy, từ bao đời nay biển đảo không những cung cấp nguồn thức ăn cho cư dân trong nước, mà còn là điều kiện đặc biệt cần thiết để Việt Nam phát triển những ngành kinh tế mũi nhọn như thuỷ sản, dầu khí, giao thông hàng hải, đóng tầu, du lịch... Hiện tại, kinh tế biển và vùng ven biển có vai trò vô cùng quan trọng, đóng góp khoảng 50% GDP cả nước.

Theo TTXVN

UBND Thành phố Hà Nội bổ nhiệm Phó Giám đốc Sở Nội vụ và Trưởng ban Thi đua Khen thưởng
Ngày đăng 21/03/2018 | 02:27  | View count: 3725

Chiều ngày 20/3/2018, tại trụ sở Sở Nội vụ, đồng chí Nguyễn Văn Sửu Phó Chủ tịch Thường trực UBND Thành phố đã trao quyết định bổ nhiệm Phó Giám đốc Sở Nội vụ và Trưởng ban Thi đua Khen thưởng. Tham dự Hội nghị còn có đồng chí Trần Huy Sáng, Thành ủy viên, Giám đốc Sở cùng toàn thể công chức, nhân viên Sở Nội vụ.

Theo các Quyết định của UBND Thành phố, đồng chí Phùng Minh Sơn, Phó Giám đốc Sở Nội vụ, Trưởng ban Thi đua Khen thưởng sẽ nghỉ chế độ hưu trí từ ngày 01/3/2018; Đồng chí Nguyễn Chí Đoàn, Trưởng phòng Xây dựng Chính quyền, Sở Nội vụ được bổ nhiệm chức vụ Phó Giám đốc Sở Nội vụ; Đồng chí Nguyễn Công Bằng, Phó trưởng Ban Thi đua Khen thưởng được bổ nhiệm chức vụ Trưởng Ban Thi đua Khen thưởng.

Phát biểu chỉ đạo và giao nhiệm vụ tại Hội nghị Phó Chủ tịch Thường trực UBND Thành phố ghi nhận, đánh giá cao những đóng góp, cống hiến của đồng chí Phùng Minh Sơn trong suốt quá trình công tác gắn bó với ngành Nội vụ Thủ đô. Đối với các đồng chí được Thành phố bổ nhiệm vị trí lãnh đạo, Lãnh đạo Thành phố luôn mong muốn các đồng chí trên cương vị mới sẽ tiếp tục nỗ lực trong công tác, cùng với tập thể Lãnh đạo, công chức, viên chức, người lao động Sở Nội vụ tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, thống nhất, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao trong thời gian tới.

Thay mặt các đồng chí nhận nhiệm vụ mới, đồng chí Nguyễn Chí Đoàn cảm ơn sự quan tâm, tin tưởng của Lãnh đạo Thành ủy, UBND Thành phố đã tín nhiệm, giao nhiệm vụ và khẳng định sẽ cùng tập thể công chức, viên chức, nhân viên Sở Nội vụ nỗ lực hết mình phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, đóng góp chung vào sự phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô.